Hiện nay, cây chè kinh doanh đang trong giai đoạn phát triển búp. Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, trong các tháng 4 và 5 nắng nóng tiếp tục gia tăng, có khả năng gay gắt hơn năm 2025; xen kẽ là các đợt mưa dông giai đoạn chuyển mùa và có xu hướng gia tăng trong mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh hại cây chè phát sinh, phát triển và gây hại trên diện rộng nếu không được phòng trừ kịp thời.
Để chủ động trong công tác phòng trừ, hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu, bệnh hại cây chè gây ra, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Nguyên ban hành hướng dẫn số 528/CCTTBVTV-TTBVTV ngày 21/4/2026 hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật phòng, trừ như sau:
1. Đối với rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi
- Thực hiện các biện pháp chăm sóc, bón phân cân đối hợp lý, dọn sạch cỏ dại, kết hợp tưới nước, tủ gốc giữ ẩm cho chè.… đảm bảo cây chè sinh trưởng phát triển tốt. Áp dụng kỹ thuật “Hái chạy” (hái sớm) nếu đến lứa hái.
- Thường xuyên kiểm tra diễn biến rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi trên các nương chè; xác định thời điểm sâu non mới nở, đặc biệt chú ý giai đoạn chè nảy búp đến trước thu hái 7 ngày, nếu thấy tỷ lệ búp bị hại từ 10% trở lên thì phun trừ bằng một trong các loại thuốc được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam như: Miktin 3.6EC; Vinup 40EC; Minup 0.3EC; Sieufatoc 36EC; Reasgant 3.6EC, 5WG; Nimbus 6.0EC; Aremec 45EC; BP DyGan 5.4EC; Catex 3.6EC, 100WG...
2. Đối với bệnh khô cành, chết ngọn
2.1. Nhận biết
- Triệu chứng bên ngoài:
+ Giai đoạn sớm (rất dễ bỏ qua): đầu cành hơi vàng hoặc xỉn màu, hơi héo; vết cắt không tươi, hơi thâm
+ Giai đoạn trung gian: đầu cành khô, teo lại; vỏ chuyển nâu/xám, có đốm đen nhỏ (ổ nấm); vết cắt thâm đen, có thể nứt vỏ; xuất hiện rêu bám nhiều (rêu bám làm giữ ẩm trên thân và giữ vỏ cây luôn ẩm, tạo điều kiện cho nấm phát triển)
+ Giai đoạn nặng: biểu hiện khô lan từ ngọn xuống dưới; cành giòn, dễ gãy, không bật mầm mới
- Triệu chứng bên trong (cắt ngang sẽ thấy rõ): mô gỗ bị bệnh màu nâu đen, có vệt chạy dọc theo mạch; trong khi mô khỏe màu trắng/xanh nhạt; xuất hiện ranh giới rất rõ giữa phần bệnh và phần khỏe- Triệu chứng sinh lý đi kèm: mầm bật chậm hoặc không bật; nếu mầm bật, chồi sẽ yếu và nhỏ; lá non dễ bị héo
2.2. Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichum spp, Phomopsis spp gây ra
2.3. Điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh
- Do kỹ thuật đốn: vết cắt bị dập hoặc không vát dẫn đến thoát nước kém, dễ nhiễm bệnh
- Thời tiết sau đốn: Ẩm độ cao, ánh sáng kém rất thuận lợi cho nấm phát sinh và gây hại
- Không phun phòng nấm (xử lý vết đốn) ngay sau đốn
Ngoài ra, trong quá trình canh tác còn một số tồn tại như: Nhiều diện tích sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chưa đúng chủng loại và kỹ thuật, bón phân cao hơn quy trình canh tác gấp 1-2 lần, cách bón thường bón rải (vãi) trên mặt đất, mặt nương chè; thời gian tưới nước kéo dài trong ngày cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển.
2.4. Biện pháp phòng trừ
* Đối với những diện tích đang bị bệnh gây hại (biện pháp xử lý ngay):
- Vệ sinh vườn, tỉa bỏ cành già, làm thông thoáng tán; khơi rãnh tạo độ thoát nước nhanh sau khi mưa; khoảng thời gian tưới nước từ 6 - 9h sáng và 3 - 5h chiều, tránh tưới nước liên tục qua đêm và khi trời nắng to.
- Cắt bỏ cành bệnh: Cắt sâu xuống phần còn xanh khỏe, cách vết bệnh 3–5 cm, thu gom và tiêu hủy cành bị bệnh (không để trong vườn chè).
- Xử lý vết cắt: Quét vôi hoặc phun thuốc phòng nấm ngay sau khi cắt đoạn cành bị bệnh, sử dụng một trong các loại thuốc như: Antracol 70WP, 700WG; Daconil 75WP, 500SC; Olicide 9SL; Promot Plus SL; Biobus 1.00WP… phun ướt đều thân, 7–10 ngày phun lại 1 lần, phun 2–3 lần nếu bệnh nặng.
- Bón phân phục hồi: Bón bổ sung phân hữu cơ, kết hợp phân tổng hợp NPK (tỷ lệ Kali cao) và bổ sung phân trung vi lượng (Mg, Zn) giúp nhanh liền vết cắt, bật mầm khỏe.
* Đối với những diện tích chưa bị bệnh (biện pháp phòng bệnh lâu dài):
- Trước khi đốn: Bón đầy đủ, cân đối phân hữu cơ, NPK và bổ sung phân vi lượng.
- Thời vụ đốn: Theo khung thời vụ (tháng 12 đến tháng 1 năm sau), tránh đốn trong điều kiện thời tiết mưa phùn, độ ẩm cao kéo dài.
- Khi đốn: Dùng dao/máy sắc, cắt dứt khoát; vết đốt vát, tạo mặt tán thoát nước.
- Giai đoạn ngay sau đốn (0 - 7 ngày): Phun thuốc phòng nấm bằng một trong các loại thuốc như: Antracol 70WP, 700WG; Daconil 75WP, 500SC; Olicide 9SL; Promot Plus SL; Biobus 1.00WP…- Giai đoạn sau đốn 7 - 10 ngày: Theo dõi nếu thấy cành khô thì cắt bỏ ngay, phun lặp lại (một trong các loại thuốc như trên) nếu điều kiện thời tiết ẩm; bón phân phục hồi (NPK, chú trọng P, K, trung + vi lượng giúp nhanh ra rễ, chống chịu, kích bật mầm ban đầu).
- Giai đoạn bật mầm (25-30 ngày sau đốn): Bón NPK (trú trọng N giúp tăng sinh trưởng mầm).
Ngoài ra cần chủ động điều tra, theo dõi mức độ phát sinh, gây hại của bệnh đốm nâu, đốm xám, thối búp... chủ động áp dụng các biện pháp phòng trừ kịp thời.
Chú ý: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng, đảm bảo tuân thủ thời gian cách ly, nồng độ, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì…